Tại sao chúng ta lại thích những thứ quen thuộc với mình hơn?

Hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên là gì?

Hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên diễn tả xu hướng phát triển sở thích của con người đối với những sự vật, hiện tượng một cách đơn thuần vì chúng đã quá quen thuộc. Hiệu ứng này còn được biết với một cái tên khác là quy tắc quen thuộc.

Hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên được biết đến dưới một cái tên khác là quy tắc quen thuộc.
Hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên được biết đến dưới một cái tên khác là quy tắc quen thuộc. Nguồn: Internet

Xu hướng này diễn ra ở đâu?

Hãy xem xét giả định sau: Một ngày nọ, Jane và gia đình của cô ấy ghé ngang một thị trấn được gọi là “Bồ Đào Nha thu nhỏ”. Họ quyết định sẽ dùng bữa trưa tại một nhà hàng Bồ Đào Nha trong thị trấn. Jane thì chưa bao giờ ăn món Bồ Đào Nha cả. Do đó, khi nhìn vào thực đơn cô ấy chẳng hề biết một món ăn hay một thành phần nào cả.

Cô ấy không biết phải gọi món gì. Cho đến khi cô ấy chú ý tới mặt phía sau của tờ thực đơn thì mới biết nhà hàng cũng có phục vụ pizza và hamburger. Cuối cùng thì cũng có thứ quen thuộc với cô ấy. Jane yêu pizza – cô ấy có thể ăn nó bất cứ lúc nào. Cho nên như một lẽ thường, cô ấy gọi món pizza.

Khi pizza được đem ra, Jane liền nghĩ ngay đến cảm giác yêu thích của mình khi ăn nó. Và cảm giác sau khi ăn chiếc pizza càng khẳng định một lần nữa cô ấy yêu pizza đến mức nào.

Như vậy, sau cùng Jane đã quyết định gọi pizza – một món ăn quen thuộc, và sau khi ăn xong cô ấy lại càng thích nó hơn. Đây là một hệ quả của hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên. Con người thường có xu hướng nghiêng về những thứ đã từng tiếp xúc trong quá khứ, và sự ưa thích của chúng ta đối với chúng càng tăng khi tiếp xúc với chúng càng nhiều.

Hiệu ứng cá nhân

Hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên có thể dẫn đến việc đưa ra các quyết định không tối ưu. Các quyết định đúng đắn được đưa ra bằng việc tính toán tất cả các hướng giải quyết khả thi, dựa trên hiệu quả của chúng chứ không phải dựa trên mức độ quen thuộc của chúng. Khi lựa chọn những phương án thay thế, chúng ta không nên chọn lựa những phương án quen thuộc nhất mà chúng ta nên chọn những phương án tốt nhất. Bởi vì không phải lúc nào lựa chọn tốt nhất cũng là lựa chọn quen thuộc nhất. Đôi khi phương án giải quyết vấn đề hiệu quả nhất lại là cái xa lạ với ta nhất. Hơn thế nữa, nếu giới hạn sự hiểu biết của bản thân bởi lý do quen thuộc sẽ khiến bạn không được tiếp xúc với những thứ mới, những ý tưởng và những quan điểm mới. Qua đó, bạn cũng sẽ tự thu hẹp sự lựa chọn của mình ở hiện tại và cả những lựa chọn cần cân nhắc trong tương lai

Chẳng hạn với tình huống ở trên. Mặc dù Jane rất hài lòng với chiếc bánh pizza của mình, tuy nhiên cô ấy đã có thể nhận được nhiều hơn nếu thử trải nghiệm món ăn của nước khác. Jane không những đã có thể ăn thử những món ăn của người Bồ Đào Nha mà còn được tiếp xúc với văn hóa ẩm thực của nền văn hóa mới – một trải nghiệm quý giá có thể giúp cô ấy hiểu biết thêm về ẩm thực và văn hóa của người Bồ Đào Nha.

Hiệu ứng toàn thể

Khi hiệu ứng này lan rộng trong hệ thống xã hội hoặc hệ thống thể chế, hậu quả mà chúng gây ra có thể trở nên nghiêm trọng hơn hẳn.

Một công ty ủng hộ mô hình kinh doanh hiện tại của mình chỉ đơn giản vì các cấp quản lý đã quen phát triển theo mô hình này, “ngại” thay đổi. Lối mòn tư duy này có thể khiến công ty bỏ lỡ những thay đổi cần thiết về hình thức tổ chức và đổi mới công nghệ, những cái luôn đòi hỏi người lãnh đạo phải “dò đá qua sông”.

Một chính phủ miễn cưỡng đi ngược lại với “cách thức tổ chức mà mọi thứ vẫn được thực hiện” không được xem là đại diện cho mong muốn và nguyện vọng của các cử tri. Tương tự như vậy, các bộ môn học thuật của một số trường phái, tư tưởng nhất định có thể bỏ sót những kết luận hữu ích mà các lý thuyết bất đồng chỉ ra.

Thành kiến này có thể góp phần tạo nên các chuẩn mực và củng cố các định kiến xã hội. Dựa theo hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên, chúng ta có nhiều khả năng chấp nhận hơn đối với những ý tưởng mà chúng ta được tiếp xúc nhiều lần. Chúng ta liên tục tiếp cận với các ý tưởng trên các phương tiện truyền thông ủng hộ các chuẩn mực và khuôn mẫu xã hội. Điều này tạo cơ hội cho các ý tưởng đó ngắm dần vào suy nghĩ của chúng ta, và đôi khi các ý tưởng này có thể gây tai hại.

Một nghiên cứu vào năm 2008 cho thấy, việc tiếp xúc với dáng hình, khuôn mặt của một dân tộc ở châu Á giúp những người tham gia nghiên cứu phát triển thái độ tích cực đối với các dân tộc châu Á khác. Điều này chỉ ra rằng, đặc điểm và tần suất tiếp xúc của chúng ta với các dân tộc khác nhau sẽ ảnh hưởng đến nhận thức chung của chúng ta trong xã hội.…

Các biện pháp đơn giản nhưng có ảnh hưởng đến nhận thức chung như hiển thị nhiều chủng tộc thiểu số hơn trên truyền hình và các bảng quảng cáo công cộng. Từ đó có thể cải thiện những phản ứng và đánh giá ban đầu của người da trắng đối với nhóm dân tộc thiểu số ở chủng tộc khác, cũng như củng cố thái độ tích cực của họ đối với những người đến từ các nhóm chủng tộc này. – Nhà tâm lý học xã hội Leslie Zebrowitz, et al.

Vì vậy, hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên đôi khi có thể kéo theo việc biến đổi và chuyển hướng các chuẩn mực về thể chế và tiêu chuẩn xã hội. Bên cạnh đó, thật không may khi những người đưa ra quyết định trong các tổ chức và xã hội thích những giá trị và cách làm của hiệu ứng thường xuyên mang lại hơn vì chúng quen thuộc.

Tại sao điều đó lại xảy ra?

Chúng ta không cần quá lo lắng đến việc nếu tiếp xúc quá nhiều với những thứ xung quanh sẽ tạo nên hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên, gây ảnh hưởng đến cảm xúc của chúng ta đối với chúng. Vì hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên phần lớn chỉ diễn ra ở mức độ tiềm thức. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, hiệu ứng này sẽ tác động mạnh hơn khi chúng ta KHÔNG nhận thức được sự kích thích của nó.

Đây là hai lí do CHÍNH giải thích tại sao chúng ta lại gặp hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên:

1.Hiệu ứng này sẽ làm giảm sự phân vân. Chúng ta sẽ cảm thấy ít lưỡng lự hơn đối với những thứ chúng ta đã quen thuộc. Con người chúng ta trong suốt quá trình tiến hóa đã được lập trình để dè chừng với những cái mới, bởi vì chính những điều mới lạ đó có thể gây hại cho loài người. Chúng ta sẽ cảm thấy an toàn đối với những thứ chúng ta thường xuyên nhìn thấy và không nhận thấy nguy hại gì từ nó. Hãy tưởng tượng bạn là một người cổ đại, và bắt gặp hai loại trái cây: một loại thì bạn đã từng nhìn thấy còn loại trái cây còn lại bạn chưa từng nhìn thấy bao giờ, vậy bạn sẽ có khả năng chọn loại nào hơn? Những người cổ đại hái lượm ở những bụi cây mà họ chưa từng thấy trước đây thường có xu hướng không sống sót lâu (vì những lý do rõ ràng). Do đó, con người phát triển theo hướng dễ có cảm nhận tích cực hơn đối với những người và những điều chúng ta đã thấy trước đây hơn những điều chúng ta chưa từng nhìn thấy.

2.Hiệu ứng này làm cho sự thấu hiểu và diễn giải trở nên dễ dàng hơn. Trong định nghĩa của một hiệu ứng khác được gọi là “sự trôi chảy về tri giác” có đề cập, chúng ta có thể hiểu và diễn giải tốt hơn những điều chúng ta đã thấy trước đây. Hãy cân nhắc điều này: đối với hầu hết chúng ta, những bộ phim có cốt truyện phức tạp thường dễ hiểu hơn trong lần xem thứ hai. Điều này là do cốt truyện và các nhân vật quen thuộc làm giảm lượng thông tin mới mà não của bạn cần để xử lý. Tâm trí của chúng ta thường tìm kiếm con đường ít khó khăn nhất, và vì vậy chúng ta thường bị kích thích với những cái chúng ta đã từng tiếp xúc

Tại sao hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên lại quan trọng?

Chúng ta nên tìm cách tránh hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên bởi vì nó có thể khiến chúng ta bỏ lỡ những thông tin quý giá và những cơ hội quý báu mà chúng ta chưa từng thấy trước đó. Hiệu ứng này thu hút chúng ta đến với sự quen thuộc và như đã đề cập trước đây, sự quen thuộc không phải là cơ sở tốt để đánh giá mọi thứ. Đôi khi lựa chọn mới nhất chính là lựa chọn tốt nhất. Ưu tiên những thứ quen thuộc sẽ ngăn cản chúng ta mạo hiểm tiếp cận với những tiềm năng lớn hơn nằm sau những khó khăn thách thức. Điều này có thể khiến chúng ta đưa ra những quyết định thiếu sáng suốt và ngăn cản chúng ta nắm bắt những cơ hội mới. Đầu tiên, hãy hình dung như thế này, những công dân bỏ phiếu cho các chính trị gia không phải bởi vì họ đại diện cho lợi ích của công dân, nguyên nhân chính là do công dân nhìn thấy hình ảnh của họ từ các quảng cáo trên phương tiện truyền thông. Ở một vấn đề khác, hãy tưởng tượng một nhà đầu tư quyết định chống lại việc áp dụng một công nghệ tiên tiến vì họ đã quen với công nghệ cũ.

Kết quả, chúng ta sẽ trở thành người có suy nghĩ hẹp và ngăn cản sự phát triển của bạn thân. Việc gắn chặt bản thân với những gì chúng ta biết và thấy một cách đều đặn và liên tục đồng nghĩa với việc tự hạn chế chính mình cởi mở, đón nhận những cái mới hơn. Không những vậy, điều đó còn khiến chúng ta không thoải mái làm việc dưới môi trường xa lạ.

Làm thế nào để tránh khỏi những ảnh hưởng của nó?

Mặc dù khó tránh khỏi sự gắn bó với những thứ thân thuộc, chúng ta vẫn thường nhận lại những điều phản tác dụng đến từ hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự tiếp xúc lặp đi lặp lại kéo dài có thể khiến tác nhân kích thích không còn thu hút con người nữa vì nó đã mất đi tính mới. Chúng ta thực sự có thể bắt đầu tránh điều gì đó nếu chúng ta tiếp xúc quá nhiều với nó. Một nghiên cứu năm 1990 xác định đây là “sự nhàm chán” với tác nhân kích thích. Bạn có thể hiểu điều này như sau: bạn bắt đầu yêu thích một bài hát nào đó và giai điệu của bài hát đó cứ du dương trong đầu bạn. Nhưng nếu bạn nghe bài hát quá nhiều, bạn sẽ cảm thấy nhàm chán và không muốn nghe bài hát đó nữa. Một chiến lược chủ động hơn có thể được sử dụng, đó chính là nhìn nhận được những trải nghiệm mới và đa dạng. Bằng cách tìm kiếm những trải nghiệm không quen thuộc và khác biệt, chúng ta có thể hạn chế tần suất tiếp xúc với các tác nhân kích thích.

Nguồn gốc của hiệu ứng này

Các ghi chép khoa học sớm nhất về hiệu ứng này đến từ công trình của nhà tâm lý học người Đức Gustav Fechner và nhà tâm lý học người Anh Edward Titchener vào cuối thế kỷ 19, đã đề cập đến “ánh sáng ấm áp” mà chúng ta cảm thấy được khi có một thứ gì đó quen thuộc. Hiệu ứng này đã được một nhà tâm lý học xã hội người Mỹ tên là Robert Zajonc nghiên cứu chuyên sâu hơn vào năm 1968. Trong các thí nghiệm của mình, Zajonc đã kiểm tra cách các đối tượng thí nghiệm phản ứng với các từ vô nghĩa được tạo ra và các ký tự Trung Quốc. Các đối tượng thí nghiệm được cho xem các kí tự nhiều lần khác nhau, và sau đó được kiểm tra về thái độ của họ đối với các kí tự đó. Zajonc nhận thấy rằng những đối tượng mà được ông cho xem nhiều kí tự nhất thì cũng chính là người có phản hồi tích cực nhất.

Ví dụ 1: Tài chính và đầu tư trong nước

Các ngành nghề trong lĩnh vực tài chính có thể bị ảnh hưởng đặc biệt bởi hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên. Một nghiên cứu năm 2015 được thực hiện bởi nhà kinh tế học Gur Huberman cho thấy, các nhà giao dịch tài chính có nhiều khả năng đầu tư vào các công ty trong nước mà họ quen thuộc, mặc dù đây không phải là chiến lược có lợi nhất hoặc ít rủi ro nhất đối với họ.

Để tránh những thiệt hại do sự suy thoái kinh tế quốc gia, các nhà đầu tư thông thường sẽ thực hiện chiến thuật đa dạng hóa quốc tế. Nói cách khác, họ sẽ khôn ngoan đầu tư dàn trải vào các công ty đặt tại các quốc gia khác nhau phòng trường hợp một trong những quốc gia đó có vấn đề kinh tế. Thông qua kế hoạch đầu tư như trên họ còn thu được nhiều lợi nhuận khi cổ phiếu nước ngoài sinh lời cao.

Mặc dù vậy, Huberman cho biết, “nhìn chung, tiền của các nhà đầu tư vẫn ở trong ao nước của họ”. Điều này là do các rào cản đối với đầu tư quốc tế đang giảm dần. Ông chia sẻ, “sự hướng về quê hương” này có thể là do “con người chỉ đơn giản thích hoặc có xu hướng đầu tư vào những thứ quen thuộc.” Việc đầu tư vào những thứ quen thuộc thật ra còn có giá trị rộng hơn: người ta thường đầu tư vào những công ty mà độ phủ sóng truyền thông tích cực cao hoặc thông qua cổ phiếu của chính công ty họ. Do đó, hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên có thể khiến các nhà đầu tư vô tình hướng về đầu tư cổ phiếu quốc nội hơn là cổ phiếu quốc tế.

Sự thân thuộc gắn liền với cảm giác thoải mái với những gì đã biết. Ngược lại, nó khó chịu, chán ghét và sợ hãi với những thứ không quen thuộc và xa cách.” – Nhà kinh tế học Gur Huberman.

Ví dụ 2: Tạp chí xếp hạng giới học thuật

Hiệu ứng tiếp xúc đơn thuần cũng xuất hiện trong giới học thuật. Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2010 bởi Alexander Serenko và Nick Bontis đã sử dụng dữ liệu do 233 nhà nghiên cứu cung cấp để xác định cách họ xếp hạng các tạp chí học thuật như thế nào. Họ đưa ra giả thuyết rằng sự tiếp xúc ảnh hưởng lên kết quả xếp hạng khi những tạp chí có thứ hạng cao hơn chỉ vì các nhà nghiên cứu đã từng tiếp xúc với nó, chứ không dựa vào việc đánh giá khách quan về đóng góp của tạp chí cho lĩnh vực này..

Phân tích của họ đã xác nhận vai trò của hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên. Cụ thể hơn, họ phát hiện ra rằng các nhà nghiên cứu trước đây đã xuất bản hoặc làm việc với một tạp chí cụ thể thì sẽ đánh giá tạp chí đó cao hơn những tạp chí họ chưa từng làm việc cùng, và  sự nhận thức về một tạp chí có tương quan mạnh mẽ với mức độ quen thuộc của các nhà nghiên cứu với nó.

Đường dẫn liên kết bài báo liên quan: The Devil You (Expect to) Know: Political Polarization – The Decision Lab

Bài báo này cho rằng cần có sự đồng cảm và thấu hiểu nhiều hơn trong một môi trường chính trị bị chia rẽ. Hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên và giả thuyết tiếp xúc tưởng tượng có liên quan trong việc đạt được mục tiêu này, chỉ ra nhu cầu tương tác nhiều hơn (cả thực tế và tưởng tượng) giữa những người có nguồn gốc và đảng phái chính trị khác nhau.

eMentorhub dịch

 

Bài viết liên quan

“Tôi không thất bại. Chỉ là tôi đang tìm kiếm câu trả lời từ 10.000 sai lầm”

Thomas A. Edison